DHS Nhật Bản về nước có dễ xin việc hơn thực tập sinh về nước ?

Tình hình kinh tế thị trường, công việc thì nhiều nhưng cạnh tranh cũng cao. Câu hỏi đặt ra là du học sinh về nước có dễ xin việc hơn thực tập sinh về nước. Chắc chắn rất nhiều bạn đã có ngay câu trả lời nhưng đời không như các bạn nghĩ, cùng xem vài con số để có một kết luận chính xác nào.

Khoảng 20.000 DHS đi du học Nhật Bản và khoảng 100.000 người đi XKLĐ mỗi năm

Mỗi năm hiện có khoảng 20.000 học sinh sinh viên đi du học tại Nhật Bản. Theo một thống kê không chính thức, hiện năm sau số lượng du học sinh chắc chắn sẽ tăng từ 10 – 15% so với năm nay. Nếu so sánh với XKLĐ, có lẽ con số 20.000 vẫn còn hơi nhỏ nhưng tương lai số lượng thực tập sinh Nhật Bản chắc chắn sẽ tăng nhanh hơn số lượng du học sinh.

Có khoảng bao nhiêu người biết … tiếng Nhật ở Việt Nam

Nếu các bạn khó hình dung mình đưa ra thử một con số nhé, khoảng trên 700.000 người Việt Nam biết tiếng Nhật hiện đang sinh sống ở Việt Nam. Con số này chỉ là ước lượng, thực tế có thể sẽ cao hơn. 700.000 người này sẽ gồm du học sinh Nhật Bản về nước, thực tập sinh về nước, người Việt Nam sang Nhật làm việc theo diện kỹ sư (trao đổi) về nước, sinh viên trường ngoại ngữ …. Và cơ hội việc làm sẽ như thế nào?

Cơ hội việc làm của du học sinh Nhật Bản về nước

Du học sinh về nước sẽ có ít nhất là bằng N3 tiếng Nhật, một số có bằng N2 nhưng ít thôi. Với mức N3 tiếng Nhật, nếu các bạn chịu đi làm giáo viên mức lương sẽ vào khoảng 8 triệu/tháng (chưa tính làm thêm). Nếu N2 mức lương cao hơn trên 12 triệu/tháng (chưa tính làm thêm). Ngoài ra các bạn còn có thể đi làm biên phiên dịch, hướng dẫn viên du lịch cũng rất hot và đang cực thiếu người.

Ngoài những công việc khá phổ thông trên, làm việc tại các công trường, khu công nghiệp cho cho các công ty của Nhật cũng được rất nhiều bạn lựa chọn. Có thể nói rằng làm ở khu công nghiệp mức lương 1000 USD là bình thường nhé. Như vậy cơ hội làm việc của du học sinh Nhật Bản về nước rất nhiều.

Cơ hội làm việc của thực tập sinh về nước

TTS về nước cũng thường có bằng tiếng nhật N3, N2 rất hiếm và tầm hơn một nửa là bằng N4. Các bạn thực tập sinh về nước thường lựa chọn làm giáo viên tiếng Nhật hoặc làm cho các công ty xuất khẩu lao động. Ngoài ra, các bạn cũng có thể lựa chọn làm biên phiên dịch cho công ty Nhật Bản tại Việt Nam nhưng do trình độ tiếng Nhật còn hạn chế nên chắc chắn là cơ hội làm tại đây sẽ không thể bằng được du học sinh.

DHS Nhật Bản về nước có dễ xin việc hơn thực tập sinh về nước

Với vài con số trên cùng với cơ hội sẵn có, dễ xin việc thì đúng rồi, còn có dễ xin việc hơn hay không còn tùy vào bản lĩnh của từng người. Sự cạnh tranh hiện nay rất khốc liệt, vì trình độ phổ thông của TTS về nước là N3 nên đa phần đều đi làm giáo viên tiếng Nhật. Còn du học sinh thì đa phần đi làm cho văn phòng của công ty Nhật Bản hoặc công ty có đối tác với bên Nhật.

Một hướng đi khác nữa đó là các bạn du học sinh và thực tập sinh có thể làm về du học Nhật Bản và XKLĐ Nhật Bản. Hướng đi này cũng có không ít bạn lựa chọn vì hoa hồng cao trong khi không phải ai cũng làm được (một khi làm được thì giàu lên nhanh chóng). Tổng kết lại DHS Nhật Bản về nước và TTS Nhật Bản về nước đều có thị trường riêng, chỉ khi các bạn có trình độ tiếng thấp thì mới cạnh tranh còn hầu như trình độ khá trở lên sẽ không cạnh tranh nhiều mà mỗi người mỗi lĩnh vực.

Đây là cảm nhận của mình về DHS và TTS Nhật Bản về nước, các bạn thì sao, xin việc dễ mà, quan trọng là các bạn có chịu phấn đấu hay không thôi. Lương thấp thì dần sẽ được tăng, chứ mà không có việc thì dần dà chỉ có mà chết đói thôi. Cố lên nhé các bạn!

Nguồn: linkedin.com

Hãy biết để bảo vệ bản thân: Lương thử việc và quyền lợi nghỉ phép trong Luật LĐ Nhật Bản

Khi kí hợp đồng làm việc, ngoài các điều khoản về tiền lương, thưởng, hỗ trợ nhà ở,… còn rất nhiều điều khoản mà chúng ta cần đọc và hiểu kỹ để biết tự bảo vệ quyền lợi cho mình khi cần thiết.

Thời gian thử việc 試用期間

Thời gian thử việc là gì?

Đúng như tên gọi của nó, thời gian thử việc là quãng thời gian để công ty test thử xem tính cách và khả năng làm việc thực sự của người lao động có phù hợp với môi trường làm việc của công ty hay không.

Trong thời gian này, nếu công ty cảm thấy không hài lòng về thái độ, cung cách, khả năng làm việc của người lao động, thì sau khi kết thúc thời gian thử việc, họ có thể cắt hợp đồng đã kí với người lao động.

Thời gian thử việc dài bao lâu?

Về mặt luật pháp, không có quy định cụ thể gì về việc thời gian thử việc tối đa là bao lâu, nhưng thời gian thử việc ở các công ty Nhật thường ở mức trung bình là 3 tháng, có nơi dài hơn thì tầm 6 tháng.

Thời gian thử việc dài hoàn toàn không hề có chút lợi ích nào đối với người lao động, vì vậy chúng ta nên tránh những công ty có thời gian thử việc quá dài.

Chính vì độ dài của thời gian thử việc là 1 điều khoản lao động có ảnh hưởng lớn tới người lao động nên nó cần được ghi rõ trong bảng quy tắc lao động của công ty, và trong hợp đồng lao động dc kí giữa công ty với người lao động.

Trường hợp thời gian thử việc không được quy định rõ ràng (không ghi rõ thời gian thử việc trên hợp đồng là bao lâu), thì quy định về thời gian thử việc này được coi là vô hiệu và thời gian đó coi như thời gian làm việc chính thức.

Ngoài ra, chính vì đây là 1 điều khoản được ghi trong hợp đồng lao động đc kí giữa 2 bên, nên nếu không có sự đồng ý của người lao động thì công ty không thể tự ý kéo dài thời gian thử việc này.

Ví dụ: thời gian thử việc quy định trên hợp đồng là 3 tháng, công ty muốn kéo dài lên thành 6 tháng thì bắt buộc phải có sự đồng ý của người lao động.

Thời gian thử việc và việc sa thải có quan hệ như thế nào?

Chính vì thời gian thử việc là thời gian cho phép công ty kiểm tra năng lực của người lao động, nên so với khi đã được tuyển chính thức, thì vị thế của người lao động khá yếu, nghĩa là công ty hoàn toàn có thể cắt hợp đồng với bạn trong thời gian này mà không bị coi là vi phạm hợp đồng.

Đương nhiên như vậy ko có nghĩa là công ty có thể dùng bất cứ lý do nào để sa thải bạn, tuy nhiên, nếu bạn phạm phải các lỗi “có vẻ khách quan gây ảnh hưởng đến công việc như”: không hợp tác với mọi người trong nhóm, thường xuyên sơ suất trong công việc, tiếng Nhật quá kém không làm được việc… thì phía công ty có thể vin vào đó để sa thải, nên cần hết sức chú ý.

Tuy nhiên, dù là đang trong thời gian thử việc, nhưng cứ miễn là đã vào công ty quá 14 ngày thì công ty phải có có chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động. Cụ thể, công ty phải báo trước cho người lao động ý định sa thải từ 30 ngày trở lên; hoặc phải đền bù cho người lao động khoản tiền tương đương với 30 ngày lương trở lên.

Những điều kiện lao động trong thời gian thử việc

Cũng có những công ty tự ý quy định những điều kiện như là “trong thời gian thử việc thì khi làm thêm giờ sẽ không được trả lương”… Khi đó, bạn cần biết, đây là 1 hành vi vi phạm pháp luật.

Người lao động cần nhớ, dù có đang là thời gian thử việc, thì việc bạn đang cung cấp sức lao động để được nhận lại tiền vẫn không có gì thay đổi. Vì thế, công ty có nghĩa vụ phải thanh toán tiền trợ cấp làm thêm giờ, làm đêm hay đi làm ngày nghỉ lễ.

Chế độ nghỉ phép có lương 有給休暇

Chế độ nghỉ phép có lương là gì?

Chế độ nghỉ phép có lương 有給休暇 với các quy định chung về thời điểm phát sinh ngày nghỉ phép, và số ngày nghỉ phép tối thiểu, là 1 quyền lợi của người lao động được quy định rõ trong Luật Lao động. Các các công ty đều phải áp dụng các quy định tối thiểu này (số ngày nghỉ phép có thể khác nhau tuỳ từng chế độ mỗi công ty, nhưng không đc ít hơn số ngày quy định theo luật).

Vì vậy, dù bạn có kí hơp đồng với 1 công ty nhỏ chỉ có vài người, thì quyền lợi này vẫn phải được đảm bảo.

Thời gian nghỉ phép sẽ bắt đầu phát sinh sau khi bạn vào công ty 6 tháng trở lên. Số ngày được nghỉ phép được hưởng sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ dài thời gian làm việc của người lao động (xem cách tính ở dưới).

Thời gian phát sinh và thời hạn của chế độ nghỉ phép có lương

Như trên đã nói, số ngày nghỉ phép hưởng lương phụ thuộc vào độ dài thời gian làm việc của người lao động. Ví dụ, trường hợp người lao động làm toàn thời gian, sau nửa năm thì số ngày nghỉ phép hưởng lương sẽ là 10 ngày và sẽ không phát sinh thêm trong suốt 1 năm sau đó (phát sinh mỗi 1 năm/lần). Số ngày nghỉ phép phát sinh các năm sau sẽ nhiều hơn năm cũ 1-2 ngày. (VD: sau 6 tháng đầu được 10 ngày, sau 18 tháng được thêm 11 ngày mới).

Tuy vậy, cần lưu ý là số ngày nghỉ phép này chỉ có “thời hạn sử dụng” là 2 năm kể từ ngày nó phát sinh, chứ không phải bạn cứ không sử dụng là nó còn đó.

Ví dụ: sau 6 tháng vào công ty bạn có 10 ngày phép, sau 18 tháng vào công ty (tức là 1 năm sau đó) bạn có thêm 11 ngày mới tổng công là 21 ngày.

Tuy nhiên, 10 ngày nghỉ phép có được đầu tiên sẽ hết hạn sử dụng vào ngày cuối cùng của tháng thứ 30 sau khi bạn vào công ty), vì vậy, nếu trước đó bạn không dùng hết 10 ngày này, thì nó sẽ tự đông mất đi. Như vậy, bạn sẽ chỉ còn lại 11 ngày phép mới phát sinh vào tháng thứ 19 và khoảng 12 ngày phép mới phát sinh thêm khi sang tháng thứ 31 mà thôi.

Tương tự, số ngày nghỉ phép mới phát sinh ở các năm sau (sau 18 tháng, sau 30 tháng,..) cũng sẽ bị hết hạn theo dạng cuốn chiếu như trên sau 2 năm kể từ ngày nó phát sinh (số ngày nghỉ phép có được sau 18 tháng sẽ hết hạn vào ngày cuối cùng của tháng thứ 42,…

Số ngày phép hết hiệu lực bạn không lấy sẽ coi như bạn bị thiệt, chứ không được quy đổi sang tiền như 1 số công ty ở Việt Nam, vì vậy, bạn cần chú ý check số ngày phép còn lại để không bị thiệt thòi.

Để dễ hiểu, các bạn xem thêm hình bên dưới đây:

有給休暇の発生と消滅

Cách tính số ngày nghỉ phép có lương

Giống như hình trên, số ngày nghỉ phép phát sinh sẽ tăng dần theo năm làm việc liên tục.

Ví dụ: người lao động làm việc toàn thời gian, thời điểm sau 6 tháng làm việc sẽ có 10 ngày nghỉ phép, sau 1 năm 6 tháng sẽ có thêm 11 ngày nghỉ phép…

Trường hợp người lao động bắt đầu làm việc được 1 năm rưỡi: Số ngày nghỉ phát sinh năm đầu tiên là 10 ngày, số ngày nghỉ phát sinh năm tiếp theo là 11 ngày, tổng là 21 ngày. Vì số ngày nghỉ phép sẽ hết hạn sau 2 năm kể từ thời điểm phát sinh, do đó tổng số ngày nghỉ phép sẽ bằng tổng số ngày nghỉ được phát sinh trong vòng 2 năm trở lại.

Ngoài ra, dù số ngày nghỉ tăng dần theo năm làm việc, tuy nhiên số ngày nghỉ phép tối đa phát sinh trong 1 năm không quá 20 ngày. Tức là nghỉ phép 1 lần được tối đa là 2 năm, tương đương 40 ngày nghỉ phép.

Do vậy, mỗi người lao động nên tự nắm rõ số ngày nghỉ phép của mình, lên kế hoạch sử dụng hợp lý để tránh làm mất đi quyền lợi chính đáng của bản thân.

Chế độ nghỉ phép có lương phụ thuộc như thế nào vào thời gian lao động?

Người lao động làm việc dưới dạng nhân viên phái cử hay arubaito thì thường có số ngày nghỉ phép ít hơn so với nhân viên toàn thời gian, nhưng vẫn được hưởng 1 số ngày phép nhất định nếu thời gian làm việc thoả mãn yêu cầu.

Chế độ nghỉ phép có lương dành cho nhân viên arubaito

Nhiều công ty, chủ lao động luôn muốn người lao động làm thêm cho họ càng nhiều càng tốt với số tiền công định sẵn, nên họ cố tình không nói về chế độ nghỉ phép có lương cho nhân viên, hoặc thậm chí có trường hợp không biết về chế độ nghỉ phép có lương này. Nhưng nếu người lao động vẫn cứ làm việc mà không biết gì về chế độ nghỉ phép có lương này thì khá là thiệt thòi. Do vậy dù là arubaito cũng nên tìm hiểu và nắm được chế độ nghỉ phép có lương này nhé

Cách tính số ngày nghỉ phép có lương cho nhân viên arubaito So với nhân viên chính thức toàn thời gian, số ngày và giờ làm việc của nhân viên arubaito ít hơn nên số ngày nghỉ phép có lương cũng ít hơn.

Ngoài ra, đối với arubaito thời gian làm việc ngắn nên số tiền lương tương đương 1 ngày phép sẽ được tính theo thời gian làm việc. Cụ thể xem ở bảng dưới. Đơn vị: ngày.

Ví dụ: Trường hợp nhân viên arubaito làm 1 tuần 3 ngày, tương đương 1 năm làm khoảng 150 ngày. Với tần suất làm việc như vậy, sau nửa năm thì số ngày nghỉ phép phát sinh sẽ là 5 ngày.

Trường hợp 1 tuần làm từ 5 ngày trở lên thì điều kiện áp dụng tương tự như nhân viên toàn thời gian.

Trường hợp người lao động làm 4 tiếng 1 ngày, khi sử dụng ngày nghỉ phép có lương thì không cần đi làm cũng có thể nhận được lương tương đương 4 tiếng làm việc.

Nói cách khác, 1 ngày làm việc bao nhiêu tiếng, không ảnh hướng đến số ngày nghỉ phép, mà ảnh hưởng đến số tiền nhận được sau khi lấy số ngày nghỉ phép.

Mỗi người lao động nên nắm rõ xem mình còn bao nhiêu ngày nghỉ phép có thể sử dụng được, không để quá hạn sử dụng số ngày nghỉ phép để tránh thiệt thòi cho bản thân.

Bài viết liên quan

Thông tin tác giả

Thêm bình luận